Sarvetil 10 Fremed 3 vỉ x 10 viên (Lisinopril)

Mã SP: 32612

* Hình sản phẩm có thể thay đổi theo thời gian
** Giá sản phẩm có thể thay đổi tuỳ thời điểm

30 ngày trả hàng Xem thêm

 Các sản phẩm được đóng gói và bảo quản an toàn.

#32612
Sarvetil 10 Fremed 3 vỉ x 10 viên (Lisinopril)
5.0/5

Số đăng ký: 893110373425

Cách tra cứu số đăng ký thuốc được cấp phép

Tìm thuốc Lisinopril khác

Tìm thuốc cùng thương hiệu Fremed khác

Thuốc này được bán theo đơn của bác sĩ

Gửi đơn thuốc

Lưu ý: Sản phẩm này chỉ bán khi có chỉ định của bác sĩ, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo.

 Giao nhanh thuốc trong 2H nội thành HCM

Bạn muốn nhận hàng trước 4h hôm nay. Đặt hàng trong 55p tới và chọn giao hàng 2H ở bước thanh toán. Xem chi tiết

Tất cả sản phẩm thay thế

Chỉ dành cho mục đích thông tin. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng bất kỳ loại thuốc nào.

Xem tất cả sản phẩm thay thế

Thông tin sản phẩm

Nội dung sản phẩm

Thành phần

  • Lisinopril (dưới dạng lisinopril dihydrate): 10mg

Công dụng (Chỉ định)

Tăng huyết áp:

  • Điều trị tăng huyết áp.

Suy tim:

  • Điều trị suy tim có triệu chứng.

Nhồi máu cơ tim cấp:

  • Điều trị ngắn hạn (6 tuần) ở bệnh nhân có huyết động học ổn định trong vòng 24 giờ đầu ở cơn nhồi máu cơ tim cấp.

Biến chứng trên thận của bệnh đái tháo đường:

  • Điều trị bệnh thận ở bệnh nhân tăng huyết áp đái tháo đường týp 2 và bệnh thận mới khởi phát.

Liều dùng

Nên uống lisinopril một lần duy nhất mỗi ngày. Cũng như các thuốc khác dùng một lần duy nhất trong ngày, Sarvetil nên được uống ở cùng thời điểm trong ngày. Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu của viên nén Sarvetil.

Liều lượng tùy thuộc theo tình trạng và đáp ứng huyết áp của từng cá nhân.

Không bẻ đôi viên thuốc. Bệnh nhân nên được chỉ định thuốc có dạng bào chế với hàm lượng thích hợp với liều dùng được chỉ định.

Tăng huyết áp:

  • Sarvetil có thể dùng riêng lẻ hoặc kết hợp với các nhóm thuốc trị tăng huyết áp khác.

Liều khởi đầu:

  • Ở bệnh nhân tăng huyết áp, liều khởi đầu được khuyến cáo là 10 mg. Bệnh nhân có hệ renin-angiotensin-aldosterone hoạt động mạnh (đặc biệt ở bệnh nhân tăng huyết áp do bệnh lý mạch máu-thận, thiếu nước và/hoặc thiếu muối, suy tim mất bù hoặc tăng huyết áp trầm trọng) có thể bị hạ huyết áp quá mức sau khi dùng liều khởi đầu. Nên dùng liều khởi đầu 2,5 – 5 mg cho các bệnh nhân này và cần có sự theo dõi của bác sỹ. Cần dùng liều khởi đầu thấp hơn ở bệnh nhân có tổn thương thận.

Liều duy trì:

  • Liều duy trì thông thường có hiệu quả là 20 mg, uống một lần duy nhất mỗi ngày. Nói chung, nếu không đạt được hiệu quả điều trị mong muốn sau 2 – 4 tuần với liều điều trị nào đó thì có thể tăng liều. Liều tối đa trong các thử nghiệm lâm sàng dài hạn có đối chứng là 80 mg/ngày.

Bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu:

  • Hạ huyết áp có triệu chứng có thể xảy ra khi bắt đầu điều trị với lisinopril. Điều này dễ xảy ra hơn ở bệnh nhân đang được điều trị đồng thời với thuốc lợi tiểu. Do đó phải thận trọng vì những bệnh nhân này có thể đang thiếu nước và/hoặc muối. Nếu được, nên ngưng thuốc lợi tiểu 2 – 3 ngày trước khi bắt đầu điều trị với Sarvetil. Ở bệnh nhân tăng huyết áp không thể ngưng thuốc lợi tiểu, nên dùng lisinopril với liều khởi đầu 5 mg. Nên theo dõi chức năng thận và lượng kali huyết thanh. Liều lisinopril tiếp theo nên điều chỉnh tùy theo đáp ứng của huyết áp. Nếu cần thiết, có thể tiếp tục dùng thuốc lợi tiểu.

Điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận:

  • Liều ở bệnh nhân suy thận phải được dựa trên độ thanh thải creatinine như mô tả ở bảng 1 dưới đây.

Bảng 1. Liều điều chỉnh ở bệnh nhân suy thận:

Độ thanh thải creatinine(mL/phút) Liều khởi đầu (mg/ngày)
Ít hơn 10 mL/phút(kể cả bệnh nhân thẩm phân) 2,5 mg*
10 – 30 mL/phút 2,5 – 5 mg
31 – 80 mL/phút 5 – 10 mg

*Liều và/hoặc số lần dùng thuốc cần được điều chỉnh theo đáp ứng của huyết áp.

Liều có thể được điều chỉnh tăng dần cho đến khi huyết áp được kiểm soát hoặc tới liều tối đa 40 mg/ngày.

Sử dụng trên trẻ em bị bệnh cao huyết áp từ 6 – 16 tuổi:

  • Liều khởi đầu khuyến cáo là 2,5 mg một lần mỗi ngày ở bệnh nhân có cân nặng từ 20 kg đến < 50 kg, và 5 mg một lần mỗi ngày ở bệnh nhân ≥ 50 kg. Liều nên được điều chỉnh tùy theo cá thể đến tối đa 20 mg/ngày ở bệnh nhân có cân nặng từ 20 đến < 50 kg, và không quá 40 mg/ngày ở bệnh nhân ≥ 50 kg. Liều trên 0,61 mg/kg (hoặc vượt quá 40 mg/ngày) chưa được nghiên cứu ở trẻ em. Ở trẻ em có chức năng thận suy giảm, nên xem xét khởi đầu với liều thấp hơn hoặc xem xét tăng từng mức liều.

Suy tim:

Ở bệnh nhân suy tim có triệu chứng, lisinopril nên được dùng như một liệu pháp hỗ trợ cho thuốc lợi tiểu và, khi thích hợp, có thể hỗ trợ cho digitalis hoặc thuốc chẹn bêta. Lisinopril có thể được sử dụng với liều khởi đầu 2,5 mg, 1 lần/ngày và nên uống khi có sự theo dõi của bác sỹ để xác định tác động lần đầu của thuốc lên huyết áp. Nên tăng liều lisinopril:

  • Từng mức không quá 10 mg.
  • Thời gian điều chỉnh liều không ít hơn 2 tuần.
  • Liều tối đa bệnh nhân có thể dung nạp lên đến 35 mg, 1 lần/ngày.
  • Việc điều chỉnh liều lượng phải được dựa trên đáp ứng lâm sàng của từng bệnh nhân.
  • Ở bệnh nhân có nguy cơ cao hạ huyết áp có triệu chứng, ví dụ bệnh nhân bị thiếu muối có hay không có giảm natri máu, bệnh nhân giảm thể tích tuần hoàn hoặc bệnh nhân đã được điều trị tích cực bằng thuốc lợi tiểu, các tình trạng bệnh này phải được điều trị, nếu được, trước khi điều trị với lisinopril. Nên theo dõi chức năng thận và kali huyết thanh.

Nhồi máu cơ tim cấp:

  • Nếu cần, bệnh nhân nên được điều trị bằng các phác đồ chuẩn như thuốc tan huyết khối, aspirin và thuốc chẹn bêta. Có thể dùng glyceryl trinitrate tiêm tĩnh mạch hoặc qua da cùng lúc với lisinopril.

Liều khởi đầu (3 ngày đầu tiên sau cơn nhồi máu cơ tim):

  • Điều trị bằng lisinopril có thể khởi đầu trong vòng 24 giờ từ khi khởi phát các triệu chứng. Việc điều trị không nên bắt đầu nếu huyết áp tâm thu thấp hơn 100 mm Hg. Liều khởi đầu của lisinopril là 5 mg đường uống, tiếp theo là 5 mg sau 24 giờ, 10 mg sau 48 giờ và 10 mg một lần/ngày cho các ngày sau đó. Bệnh nhân có huyết áp tâm thu thấp (≤ 120 mm Hg) khi khởi đầu điều trị hay trong vòng 3 ngày đầu tiên sau cơn nhồi máu cơ tim nên dùng liều thấp hơn 2,5 mg đường uống.
  • Ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinine < 80 mL/phút), liều khởi đầu Lisinopril nên được điều chỉnh tùy theo độ thanh thải creatinine.

Liều duy trì:

  • Liều duy trì là 10 mg, 1 lần/ngày. Nếu hạ huyết áp xảy ra (huyết áp tâm thu ≤ 100 mm Hg), liều duy trì hằng ngày 5 mg nên được giảm tạm thời xuống còn 2,5 mg nếu cần thiết. Nếu hạ huyết áp kéo dài xảy ra (huyết áp tâm thu thấp hơn 90 mm Hg kéo dài lâu hơn một giờ), nên ngưng dùng thuốc lisinopril.
  • Việc điều trị nên được tiếp tục trong 6 tuần và sau đó bệnh nhân nên được đánh giá lại. Bệnh nhân có các triệu chứng suy tim nên tiếp tục dùng lisinopril.

Biến chứng trên thận của bệnh đái tháo đường:

  • Điều trị bệnh thận ở bệnh nhân tăng huyết áp đái tháo đường týp 2 và bệnh thận mới khởi phát liều hàng ngày là 10 mg lisinopril, 1 lần/ngày, có thể tăng lên 20 mg, 1 lần/ngày, nếu cần thiết, để đạt được huyết áp tâm trương ở tư thế ngồi dưới 90 mm Hg. Ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinine < 80 mL/phút), liều khởi đầu lisinopril nên được điều chỉnh theo độ thanh thải creatinine.

Trẻ em:

  • Dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả cho trẻ em trên 6 tuổi bị tăng huyết áp còn hạn chế. Không khuyến cáo sử dụng lisinopril cho trẻ em với chỉ định khác ngoài chỉ định tăng huyết áp.
  • Không khuyến cáo sử dụng lisinopril cho trẻ em dưới 6 tuổi hoặc trẻ bị suy thận nặng (độ lọc cầu thận GFR < 30 ml/phút/1,73m2).

Sử dụng thuốc ở người cao tuổi:

  • Trong các nghiên cứu lâm sàng, không có thay đổi nào liên quan đến tuổi tác bệnh nhân về hiệu quả và tính an toàn của thuốc. Tuy nhiên, khi tuổi cao kèm theo giảm chức năng thận, nên tuân theo hướng dẫn ở bảng 1 để xác định liều khởi đầu của lisinopril. Sau đó, liều nên được điều chỉnh tùy theo đáp ứng của huyết áp.

Sử dụng trên bệnh nhân ghép thận:

  • Chưa có kinh nghiệm về việc dùng lisinopril trên bệnh nhân mới ghép thận. Do vậy, không khuyến cáo dùng lisinopril trên các bệnh nhân này.

Cách dùng

  • Dùng đường uống.

Quá liều

  • Dữ liệu về quá liều ở người còn hạn chế. Các triệu chứng liên quan đến quá liều thuốc ức chế men chuyển có thể bao gồm tụt huyết áp, sốc tuần hoàn, rối loạn điện giải, suy thận, tăng thông khí phổi, nhanh nhịp tim, đánh trống ngực, chậm nhịp tim, chóng mặt, lo âu và ho.
  • Điều trị quá liều được khuyến cáo là truyền tĩnh mạch dung dịch muối sinh lý. Nếu hạ huyết áp xảy ra, nên đặt bệnh nhân ở tư thế chống sốc. Cũng có thể xem xét điều trị với angiotensin II và/hoặc catecholamine tiêm tĩnh mạch nếu có sẵn. Nếu mới uống thuốc quá liều, áp dụng các biện pháp nhằm đào thải lisinopril (như gây nôn, rửa dạ dày, uống chất hấp thụ và natri sulfate). Có thể loại lisinopril ra khỏi hệ tuần hoàn bằng phương pháp thẩm phân máu. Đặt máy tạo nhịp được chỉ định trong tình trạng chậm nhịp tim kháng trị. Cần theo dõi thường

Không sử dụng trong trường hợp sau (Chống chỉ định)

  • Quá mẫn với lisinopril hoặc bất kỳ tá dược nào hoặc các thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE) khác.
  • Có tiền sử phù mạch do dùng thuốc ức chế men chuyển.
  • Sử dụng đồng thời lisinopril với sacubitril/ valsartan. Lisinopril không được bắt đầu sớm hơn 36 giờ sau liều sacubitril/valsartan cuối cùng
  • Phù mạch di truyền hoặc vô căn.
  • Phụ nữ có thai ở 3 tháng giữa và cuối của thai kỳ
  • Dùng phối hợp với thuốc chứa aliskiren ở bệnh nhân đái tháo đường (týp I hoặc II) hoặc bệnh nhân suy thận trung bình đến nặng (GFR < 60 ml/phút/1,73m2).

Tác dụng không mong muốn (Tác dụng phụ)

Các tác dụng không mong muốn sau đã được quan sát và ghi nhận trong khi dùng lisinopril và các thuốc ức chế men chuyển khác với tần xuất xảy ra như sau: Rất thường gặp (≥ 1/10), thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10), ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100), hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000), rất hiếm gặp (< 1/10.000), chưa biết (không thể ước lượng từ dữ liệu sẵn có).

Rối loạn máu và hệ bạch huyết:

  • Hiếm gặp: Giảm haemoglobin, giảm haematocrit.
  • Rất hiếm gặp: Suy tủy xương, thiếu máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, mất bạch cầu hạt, thiếu máu tán huyết, bệnh hạch bạch huyết, bệnh tự miễn.

Rối loạn hệ thống miễn dịch:

  • Chưa biết: Phản ứng phản vệ/dạng phản vệ.

Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng:

  • Rất hiếm gặp: Hạ đường huyết.

Rối loạn hệ thần kinh và tâm thần:

  • Thường gặp: Chóng mặt, nhức đầu.
  • Ít gặp: Thay đổi khí mood, dị cảm, chóng mặt, rối loạn vị giác, rối loạn giấc ngủ, ảo giác.
  • Hiếm gặp: Lú lẫn tâm thần, rối loạn khứu giác.
  • Chưa biết: Triệu chứng trầm cảm, ngất.

Rối loạn tim mạch:

  • Thường gặp: Tác động tư thế (kể cả hạ huyết áp).
  • Ít gặp: nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não, có thể thứ phát do hạ huyết áp quá mức ở bệnh nhân có nguy cơ cao, hồi hộp, nhịp tim nhanh, hiện tượng Raynaud.

Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất:

  • Thường gặp: Ho.
  • Ít gặp: Viêm mũi.
  • Rất hiếm gặp: Co thắt phế quản, viêm xoan, viêm phế nang do dị ứng/viêm phổi tăng bạch cầu ái toan.

Rối loạn tiêu hóa:

  • Thường gặp: Tiêu chảy, buồn nôn.
  • Ít gặp: Nôn, đau bụng, khó tiêu.
  • Hiếm gặp: Khô miệng.
  • Rất hiếm gặp: Viêm tụy, phù mạch tại ruột, viêm tế bào gan hoặc viêm gan ứ mật, vàng da và suy gan.

Rối loạn da và mô dưới da:

  • Ít gặp: Phát ban, ngứa
  • Hiếm gặp: Nổi mẩn, ngứa, quá mẫn/phù thần kinh-mạch: phù thần kinh-mạch ở mặt, tay chân, môi, lưỡi, thanh môn và/hoặc thanh quản.
  • Rất hiếm: Toát mồ hôi, bệnh pemphigus, hoại tử biểu bì gây độc, hội chứng Stevens-Johnson và hồng ban đa dạng, u lympho giả trên da.
  • Phức hợp triệu chứng đã được ghi nhận và có thể bao gồm một hoặc nhiều triệu chứng sau đây: sốt, viêm mạch máu, đau cơ, đau khớp/viêm khớp, kháng thể kháng nhân (ANA) dương tính, tăng vận tốc lắng máu (ESR), tăng bạch cầu ái toan, tăng bạch cầu, nổi mẩn, nhạy cảm ánh sáng hoặc các biểu hiện khác ở da có thể xảy ra.

Rối loạn thận và tiết niệu:

  • Thường gặp: Rối loạn chức năng thận.
  • Hiếm gặp: Urê huyết, suy thận cấp.
  • Rất hiếm gặp: Thiểu niệu/vô niệu.

Rối loạn nội tiết:

  • Hiếm gặp: Hội chứng tiết hormon chống bài niệu không thích hợp (SIADH).

Rối loạn hệ sinh sản và tuyến vú:

  • Ít gặp: Bất lực.
  • Hiếm gặp: Nữ hóa tuyến vú.

Các rối loạn chung và tình trạng tại chỗ dùng thuốc:

  • Ít gặp: Mệt mỏi, suy nhược.

Các kết quả xét nghiệm:

  • Ít gặp: Tăng urê máu, tăng creatinine huyết thanh, tăng men gan, tăng kali máu.
  • Hiếm gặp: Tăng bilirubin huyết thanh, giảm natri máu.
  • Dữ liệu an toàn từ các nghiên cứu lâm sàng cho thấy lisinopril nói chung được dung nạp tốt ở trẻ em tăng huyết áp, do đó thông tin an toàn trong nhóm tuổi này là tương đương như khi quan sát ở người lớn.

Thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ những phản ứng có hại gặp phải khi sử dụng thuốc.

Tương tác với các thuốc khác

Các thuốc điều trị tăng huyết áp:

  • Khi phối hợp với các thuốc điều trị tăng huyết áp khác (ví dụ glyceryl trinitrate và các nitrate khác hoặc các thuốc giãn mạch khác), tình trạng huyết áp hạ nhiều hơn có thể xảy ra.
  • Dữ liệu thử nghiệm lâm sàng đã chỉ ra rằng việc phong bế kép hệ thống renin-angiotensin-aldosterone (RAAS) thông qua việc sử dụng kết hợp thuốc ức chế men chuyển, thuốc ức chế thụ thể angiotensin II hoặc aliskiren có liên quan đến tần suất tác dụng không mong muốn cao hơn như hạ huyết áp, tăng kali máu và giảm chức năng thận (bao gồm suy thận cấp) so với việc sử dụng một thuốc tác dụng RAAS đơn lẻ.

Thuốc làm tăng nguy cơ phù mạch:

  • Chống chỉ định dùng đồng thời thuốc ức chế men chuyển với sacubitril/valsartan vì làm tăng nguy cơ phù mạch.
  • Điều trị đồng thời thuốc ức chế men chuyển với thuốc ức chế tại đích của rapamycin ở động vật có vú (mTOR) (ví dụ temsirolimus, sirolimus, everolimus) hoặc thuốc ức chế endpeptidase trung tính (NEP) (ví dụ racecadotril), vildagliptin hoặc chất kích hoạt plasminogen mô có thể làm tăng nguy cơ phù mạch (ví dụ sưng đường hô hấp hoặc lưỡi, có hoặc không có suy hô hấp.

Thuốc lợi tiểu:

  • Khi thêm một thuốc lợi tiểu vào phác đồ điều trị của bệnh nhân đang sử dụng lisinopril, tác dụng điều trị tăng huyết áp thường tăng thêm.
  • Bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu và đặc biệt là những bệnh nhân mới dùng thuốc lợi tiểu, đôi khi bị hạ huyết áp quá mức khi dùng thêm lisinopril. Khả năng bị hạ huyết áp có triệu chứng với lisinopril có thể được giảm tối thiểu bằng cách ngưng thuốc lợi tiểu trước khi bắt đầu điều trị với lisinopril.

Chất bổ sung kali, thuốc lợi tiểu giữ kali hoặc các chất thay thế muối chứa kali và các thuốc làm tăng kali huyết thanh:

  • Mặc dù nồng độ kali trong huyết thanh thường ở trong mức giới hạn, tình trạng tăng kali huyết đã xảy ra ở một số bệnh nhân khi điều trị bằng lisinopril. Dùng thuốc lợi tiểu giữ kali (như spironolactone, triamterene hoặc amiloride), chất bổ sung kali hoặc chất thay thế muối chứa kali, đặc biệt ở bệnh nhân suy thận, có thể dẫn đến nồng độ kali huyết thanh tăng đáng kể. Thận trọng khi dùng lisinopril đồng thời với các thuốc làm tăng kali huyết thanh như trimethoprim và co-trimoxazole (trimethoprim/sulfamethoxazole) vì trimethoprim được biết là có tác dụng như thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali như amiloride. Do đó, không khuyến cáo kết hợp lisinopril với các loại thuốc nêu trên.
  • Nếu được chỉ định dùng đồng thời, nên thận trọng và thường xuyên theo dõi nồng độ kali huyết thanh.
  • Nếu dùng lisinopril chung với thuốc lợi tiểu mất kali, sự giảm kali huyết gây ra do thuốc lợi tiểu có thể được cải thiện.

Ciclosporin:

  • Tăng kali huyết có thể xảy ra khi sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển với ciclosporin.
  • Khuyến cáo theo dõi nồng độ kali huyết thanh.

Heparin:

  • Tăng kali huyết có thể xảy ra khi sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển với heparin.
  • Khuyến cáo theo dõi nồng độ kali huyết thanh.

Lithi:

  • Sự gia tăng nồng độ và độc tính của lithi trong huyết thanh có hồi phục đã được ghi nhận khi dùng đồng thời lithi với thuốc ức chế men chuyển. Khi dùng chung với thuốc lợi tiểu thiazide có thể làm tăng nguy cơ độc tính của lithi. Không khuyến cáo dùng lisinopril chung với lithi, nhưng nếu cần thiết phải kết hợp thì phải theo dõi cẩn thận nồng độ lithi trong huyết thanh.

Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) bao gồm acid acetylsalicylic ≥ 3 g/ngày:

  • Khi dùng đồng thời thuốc ức chế men chuyển với thuốc kháng viêm không steroid (như acid acetylsalicylic ở liều chống viêm, thuốc ức chế COX-2 và NSAID không chọn lọc), tác dụng hạ huyết áp có thể bị suy giảm. Việc sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển và NSAID có thể làm tăng nguy cơ giảm chức năng thận, bao gồm cả suy thận cấp và tăng kali huyết thanh, đặc biệt ở những bệnh nhân có giảm chức năng thận trước đó. Những tác động này thường hồi phục. Nên thận trọng khi dùng phối hợp, đặc biệt ở người cao tuổi. Bệnh nhân cần được bù nước đầy đủ và cần cân nhắc theo dõi chức năng thận sau khi bắt đầu điều trị đồng thời và định kỳ sau đó.

Vàng:

  • Phản ứng Nitritoid (triệu chứng của sự giãn mạch, mà có thể rất trầm trọng, bao gồm: đỏ bừng, buồn nôn, chóng mặt và hạ huyết áp) sau khi sử dụng vàng dạng tiêm (ví dụ: natri aurothiomalate) đã được ghi nhận thường xuyên xảy ra ở những bệnh nhân điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển.

Thuốc chống trầm cảm ba vòng/Thuốc chống loạn thần/Thuốc gây mê:

  • Khi dùng chung thuốc gây mê, thuốc chống trầm cảm ba vòng và thuốc chống loạn thần với thuốc ức chế men chuyển có thể dẫn đến hạ huyết áp nhiều hơn.

Thuốc giống giao cảm:

  • Thuốc giống giao cảm có thể làm giảm tác động điều trị tăng huyết áp của thuốc ức chế men chuyển.

Thuốc trị bệnh đái tháo đường:

  • Các nghiên cứu dịch tễ học đề nghị rằng dùng đồng thời thuốc ức chế men chuyển và thuốc trị đái tháo đường (insulin, thuốc hạ đường huyết dạng uống) có thể làm tăng tác động hạ đường huyết với nguy cơ hạ đường huyết. Hiện tượng này dường như xảy ra nhiều hơn trong những tuần điều trị đầu tiên và ở bệnh nhân suy thận.

Acid acetylsalicylic, thuốc tan huyết khối, thuốc chẹn bêta, thuốc nhóm nitrate:

  • Lisinopril có thể sử dụng đồng thời với acid acetylsalicylic (ở các liều dùng cho bệnh lý tim mạch), thuốc tan huyết khối, thuốc chẹn bêta và/hoặc nhóm nitrate.

Tương kỵ:

  • Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.

Lưu ý khi sử dụng (Cảnh báo và thận trọng)

Hạ huyết áp có triệu chứng:

  • Hạ huyết áp có triệu chứng rất hiếm gặp ở bệnh nhân tăng huyết áp không có biến chứng. Ở bệnh nhân tăng huyết áp dùng lisinopril, hạ huyết áp có khuynh hướng dễ xảy ra nếu bệnh nhân bị giảm thể tích tuần hoàn, ví dụ do thuốc lợi tiểu, chế độ ăn hạn chế muối, thẩm phân, tiêu chảy hoặc nôn mửa hoặc tăng huyết áp nặng phụ thuộc renin. Ở bệnh nhân suy tim, có hay không có suy thận kèm theo, hạ huyết áp có triệu chứng cũng đã được ghi nhận. Điều này có nhiều khả năng xảy ra hơn ở bệnh nhân suy tim nặng, phản ánh qua việc dùng liều cao thuốc lợi tiểu quai, giảm natri máu hoặc suy giảm chức năng thận. Ở những bệnh nhân có nguy cơ cao bị hạ huyết áp có triệu chứng, việc khởi đầu điều trị và điều chỉnh liều cần được giám sát chặt chẽ. Những biện pháp tương tự cũng được áp dụng ở bệnh nhân có bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc bệnh mạch máu não, mà ở những bệnh nhân này hạ huyết áp quá mức có thể dẫn tới nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não.
  • Nếu hạ huyết áp xảy ra, phải để bệnh nhân nằm ngửa và, nếu cần, truyền tĩnh mạch dung dịch muối sinh lý. Hạ huyết áp thoáng qua không phải là yếu tố quyết định ngừng sử dụng những liều tiếp theo, những liều thuốc này có thể được sử dụng không có trở ngại khi huyết áp đã được tăng lên sau khi bù dịch.
  • Ở một số bệnh nhân suy tim có huyết áp bình thường hoặc thấp, huyết áp có thể hạ thấp hơn nữa khi dùng lisinopril. Tác dụng này đã được biết trước và thường không phải là lý do để ngưng thuốc. Nếu hạ huyết áp có triệu chứng, có thể cần phải giảm liều hoặc ngưng sử dụng lisinopril.

Hạ huyết áp trong nhồi máu cơ tim cấp:

  • Không được khởi đầu điều trị với lisinopril cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có nguy cơ bị rối loạn huyết động học trầm trọng sau khi điều trị với thuốc giãn mạch. Những bệnh nhân này có huyết áp tâm thu ≤ 100 mmHg hoặc sốc tim. Trong vòng ba ngày đầu tiên sau nhồi máu cơ tim, nên giảm liều nếu huyết áp tâm thu ≤ 120 mmHg. Cần giảm liều duy trì xuống 5 mg hoặc tạm thời xuống 2,5 mg nếu huyết áp tâm thu ≤ 100 mmHg. Nếu hạ huyết áp kéo dài (huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg kéo dài hơn 1 giờ) phải ngưng dùng thuốc lisinopril.

Bệnh nhân mắc bệnh cơ tim phì đại/hẹp động mạch chủ và van hai lá:

  • Giống như các thuốc ức chế men chuyển khác, nên thận trọng khi dùng lisinopril cho bệnh nhân hẹp van hai lá và nghẽn dòng máu ra khỏi tâm thất trái như hẹp động mạch chủ hoặc bệnh cơ tim phì đại.

Tổn thương chức năng thận:

  • Ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinine < 80 mL/phút), liều khởi đầu lisinopril nên được điều chỉnh theo độ thanh thải creatinine của bệnh nhân và đáp ứng của bệnh nhân với trị liệu. Theo dõi thường quy lượng kali và creatinine ở các bệnh nhân này.
  • Ở bệnh nhân suy tim, hạ huyết áp sau khi dùng liều khởi đầu thuốc ức chế men chuyển có thể làm nặng thêm tình trạng tổn thương chức năng thận. Suy thận cấp, thường có thể hồi phục, đã được ghi nhận trong trường hợp này.
  • Ở một số bệnh nhân hẹp động mạch thận 2 bên hoặc 1 bên, được điều trị với thuốc ức chế men chuyển, đã ghi nhận có sự gia tăng urê huyết và creatinine huyết thanh, thường sẽ hồi phục khi ngưng điều trị. Điều này đặc biệt dễ xảy ra ở bệnh nhân suy thận. Nếu tăng huyết áp do bệnh lý mạch máu thận cũng hiện diện thì làm tăng nguy cơ hạ huyết áp nặng và suy thận. Ở những bệnh nhân này, nên bắt đầu điều trị ở liều thấp dưới sự giám sát chặt chẽ và điều chỉnh liều cẩn thận.
  • Vì việc điều trị với thuốc lợi tiểu có thể là một yếu tố góp phần gây ra tình trạng nói trên, nên ngưng dùng những thuốc này và theo dõi chức năng thận trong những tuần đầu tiên điều trị với lisinopril.
  • Một số bệnh nhân tăng huyết áp mà không có bệnh lý mạch máu thận rõ rệt trước đó có hiện tượng tăng urê huyết và creatinine huyết thanh, thường nhẹ và thoáng qua, đặc biệt khi lisinopril được dùng đồng thời với thuốc lợi tiểu. Điều này thường có khả năng xảy ra hơn ở bệnh nhân có suy năng thận trước đó. Có thể cần giảm liều và/hoặc ngưng thuốc lợi tiểu và/hoặc lisinopril.
  • Trong nhồi máu cơ tim cấp, không nên điều trị khởi đầu với lisinopril ở bệnh nhân có biểu hiện rối loạn chức năng thận, được cho là khi nồng độ creatinine huyết thanh vượt quá 177 micromol/lít và/hoặc protein niệu vượt quá 500 mg/24 giờ. Nếu rối loạn chức năng thận tiến triển trong quá trình điều trị với lisinopril (nồng độ creatinine huyết thanh vượt quá 265 micromol/lít hay gấp đôi so với các trị số trước khi điều trị) thì nên xem xét đến việc ngưng dùng lisinopril.

Quá mẫn/Phù mạch:

  • Phù mạch ở mặt, tay chân, môi, lưỡi, thanh môn và/hoặc thanh quản đã được ghi nhận nhưng hiếm ở bệnh nhân được điều trị với thuốc ức chế men chuyển, bao gồm lisinopril. Triệu chứng này có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào trong khi điều trị. Trong trường hợp này, cần ngưng dùng lisinopril ngay lập tức và tiến hành điều trị và theo dõi để đảm bảo rằng các triệu chứng được xử trí dứt điểm trước khi bệnh nhân xuất viện. Ngay cả trong trường hợp sưng phù chỉ khu trú ở lưỡi, không gây suy hô hấp, bệnh nhân cũng cần được tiếp tục theo dõi vì việc điều trị bằng thuốc kháng histamin và corticosteroid có thể không đáp ứng đầy đủ.
  • Đã có ghi nhận tử vong do phù mạch liên quan đến phù thanh quản hoặc phù lưỡi nhưng rất hiếm. Bệnh nhân phù ở lưỡi, thanh môn hoặc thanh quản có thể bị tắc nghẽn đường hô hấp, đặc biệt ở những người có tiền sử phẫu thuật đường hô hấp. Trong những trường hợp này, cần điều trị cấp cứu ngay. Trường hợp này có thể sử dụng adrenaline và/hoặc duy trì thông thoáng đường hô hấp. Cần theo dõi bệnh nhân cẩn thận cho đến khi triệu chứng được xử trí dứt điểm và ổn định.
  • Thuốc ức chế men chuyển gây phù mạch ở người da đen với tỷ lệ cao hơn ở người có màu da khác.
  • Những bệnh nhân có tiền sử phù mạch không do sử dụng thuốc ức chế men chuyển có thể có nguy cơ cao bị phù mạch khi dùng thuốc ức chế men chuyển.
  • Không sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển với sacubitril/valsartan do tăng nguy cơ phù mạch. Không được bắt đầu điều trị bằng sacubitril/valsartan sớm hơn 36 giờ sau liều lisinopril cuối cùng. Không được bắt đầu điều trị bằng lisinopril sớm hơn 36 giờ sau liều sacubitril/valsartan cuối cùng.
  • Sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển với racecadotril, thuốc ức chế mTOR (ví dụ sirolimus, everolimus, temsirolimus) và vildagliptin có thể dẫn đến tăng nguy cơ phù mạch (ví dụ sưng đường hô hấp hoặc lưỡi, có hoặc không có suy hô hấp). Cần thận trọng khi bắt đầu dùng racecadotril, thuốc ức chế mTOR (ví dụ sirolimus, everolimus, temsirolimus) và vildagliptin ở bệnh nhân đang dùng thuốc ức chế men chuyển.

Phản ứng dạng phản vệ ở bệnh nhân thẩm phân máu:

  • Các phản ứng dạng phản vệ đã được ghi nhận ở bệnh nhân thẩm phân máu với màng thẩm phân có tốc độ thẩm phân cao (như AN 69) và điều trị đồng thời với một thuốc ức chế men chuyển. Ở những bệnh nhân này cần xem xét việc sử dụng một loại màng thẩm phân khác hoặc nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp khác.

Phản ứng dạng phản vệ khi ly trích lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL):

  • Ở vài trường hợp hiếm, bệnh nhân đang dùng thuốc ức chế men chuyển trong khi ly trích lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) bằng dextran sulphate có thể có phản ứng dạng phản vệ đe dọa đến tính mạng. Các phản ứng này có thể tránh được khi tạm thời không dùng thuốc ức chế men chuyển trước mỗi lần ly trích.

Giải mẫn cảm:

  • Bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển trong quá trình điều trị giải mẫn cảm (ví dụ nọc độc loài hymenoptera) đã có những phản ứng dạng phản vệ kéo dài. Cũng ở những bệnh nhân này, các phản ứng này có thể tránh được khi tạm ngưng thuốc ức chế men chuyển nhưng cũng đã xuất hiện lại khi vô tình sử dụng thuốc trở lại.

Suy gan:

  • Ở một vài trường hợp rất hiếm, thuốc ức chế men chuyển có thể liên quan đến hội chứng khởi đầu là vàng da ứ mật và tiến triển thành hoại tử bạo phát và (đôi khi) gây tử vong. Cơ chế của hội chứng này chưa được biết rõ. Nên ngưng dùng thuốc ở bệnh nhân xuất hiện triệu chứng vàng da hoặc tăng men gan rõ rệt khi dùng lisinopril và cần có sự theo dõi của bác sỹ.

Giảm bạch cầu trung tính/ Mất bạch cầu hạt:

  • Giảm bạch cầu/mất bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu và thiếu máu đã được ghi nhận ở bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển. Hiếm khi xảy ra giảm bạch cầu trung tính ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường và không có các yếu tố biến chứng. Giảm bạch cầu trung tính và mất bạch cầu hạt có thể hồi phục sau khi ngưng dùng thuốc ức chế men chuyển. Nên dùng lisinopril một cách rất thận trọng ở bệnh nhân có bệnh mạch máu tạo keo, đang điều trị ức chế miễn dịch, đang dùng allopurinol hoặc procainamide, hoặc có sự kết hợp của các yếu tố biến chứng này, đặc biệt ở bệnh nhân có suy giảm chức năng thận trước đó. Một số bệnh nhân này bị nhiễm khuẩn nghiêm trọng mà không đáp ứng với trị liệu kháng sinh tích cực. Nếu dùng lisinopril ở các bệnh nhân này, nên theo dõi định kỳ số lượng bạch cầu và phải yêu cầu bệnh nhân báo cáo ngay nếu có bất cứ dấu hiệu nhiễm khuẩn nào.

Phong bế kép hệ renin-angiotensin-aldosteron (RAAS):

  • Có bằng chứng cho thấy sử dụng đồng thời các thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II hoặc aliskiren làm tăng nguy cơ hạ huyết áp, tăng kali máu và suy giảm chức năng thận (bao gồm suy thận cấp). Do đó, không khuyến cáo phong bế kép hệ RAAS thông qua việc sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II hoặc aliskiren.
  • Nếu buộc phải dùng phác đồ phong bế kép, quá trình điều trị cần được giám sát bởi bác sĩ chuyên khoa và theo dõi chặt chẽ huyết áp, chức năng thận và điện giải.
  • Không nên sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II trên bệnh nhân mắc bệnh thận đái tháo đường.

Chủng tộc:

  • Thuốc ức chế men chuyển gây phù mạch ở người da đen với tỉ lệ cao hơn ở người màu da.
  • Cũng như các thuốc ức chế men chuyển khác, lisinopril có thể ít có tác động hạ huyết áp trên bệnh nhân da đen so với trên các nhóm bệnh nhân khác, có thể là do tình trạng renin thấp chiếm tỷ lệ cao ở nhóm bệnh nhân da đen tăng huyết áp.

Ho:

  • Ho đã được ghi nhận khi sử dụng thuốc ức chế men chuyển. Điển hình là ho khan, dai dẳng và tự hồi phục khi ngưng thuốc. Ho do thuốc ức chế men chuyển phải được xem xét khi chẩn đoán phân biệt nguyên nhân gây ho.

Phẫu thuật/Gây mê:

  • Ở bệnh nhân đại phẫu hoặc trong khi gây mê bằng các thuốc dẫn đến hạ huyết áp, lisinopril có thể ức chế sự tạo thành angiotensin II thứ phát do phóng thích renin bù trừ. Nếu hạ huyết áp xảy ra và được cho là do cơ chế này thì có thể điều chỉnh bằng cách bồi hoàn thể tích tuần hoàn.

Tăng kali máu:

  • Tăng kali huyết thanh đã được ghi nhận trên một số bệnh nhân được điều trị bằng các thuốc ức chế men chuyển do ức chế giải phóng aldosterone. Tác dụng này thường không đáng kể ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân bị suy thận, đái tháo đường và/hoặc ở những bệnh nhân dùng thuốc bổ sung kali (bao gồm cả muối thay thế), thuốc lợi tiểu giữ kali (ví dụ spironolactone, triamterene hoặc amiloride), các thuốc khác có liên quan đến tăng kali huyết thanh (ví dụ heparin, trimethoprim hoặc co-trimoxazole còn được gọi là trimethoprim/sulfamethoxazole) và đặc biệt là thuốc đối kháng aldosterone hoặc thuốc ức chế thụ thể angiotensin, có thể xảy ra tăng kali máu. Thuốc lợi tiểu giữ kali và thuốc ức chế thụ thể angiotensin nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển, đồng thời cần theo dõi nồng độ kali huyết thanh và chức năng thận.

Bệnh nhân đái tháo đường:

  • Bệnh nhân đái tháo đường đang dùng thuốc uống trị đái tháo đường hoặc insulin, nên kiểm soát chặt chẽ mức đường huyết trong tháng đầu điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển.

Lithi:

  • Nói chung không khuyến cáo kết hợp lithi với lisinopril.

Phụ nữ có thai:

  • Không nên sử dụng thuốc ức chế men chuyển trong thai kỳ. Trừ trường hợp bắt buộc phải tiếp tục sử dụng thuốc ức chế men chuyển, các bệnh nhân có dự định mang thai cần được đổi sang thuốc trị tăng huyết áp khác đã được xác định là an toàn để sử dụng trong thai kỳ. Khi đã xác định mang thai, cần ngừng sử dụng thuốc.

Phụ nữ mang thai và cho con bú

Phụ nữ mang thai:

  • Không nên dùng lisinopril trong 3 tháng đầu của thai kỳ. Chống chỉ định sử dụng thuốc ức chế men chuyển trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ
  • Bằng chứng dịch tễ học về nguy cơ gây quái thai sau khi tiếp xúc với thuốc ức chế men chuyển trong ba tháng đầu của thai kỳ vẫn chưa được kết luận; tuy nhiên không thể loại trừ sự gia tăng nhỏ về rủi ro. Trừ khi việc tiếp tục điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển được cho là cần thiết, bệnh nhân dự định mang thai nên chuyển sang phương pháp điều trị hạ huyết áp thay thế đã được chứng minh là an toàn khi sử dụng trong thai kỳ. Khi được chẩn đoán có thai, nên ngừng điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển ngay lập tức và nếu thích hợp, nên bắt đầu liệu pháp thay thế.
  • Dùng thuốc ức chế men chuyển trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ đã biết gây độc trên bào thai người (giảm chức năng thận, thiểu ối, chậm cốt hóa xương sọ) và độc tính trên trẻ sơ sinh (suy thận, hạ huyết áp, tăng kali huyết).
  • Nếu xảy ra trường hợp dùng lisinopril trong 3 tháng giữa của thai kỳ, nên siêu âm kiểm tra chức năng thận và hộp sọ.
  • Trẻ nhũ nhi có mẹ dùng thuốc ức chế men chuyển nên được theo dõi chặt chẽ đề phòng hạ huyết áp

Phụ nữ cho con bú:

  • Do không có thông tin liên quan đến việc sử dụng lisinopril trong thời gian cho con bú, nên không khuyến cáo sử dụng lisinopril và ưu tiên liệu pháp điều trị thay thế đã được chứng minh an toàn trong thời kỳ cho con bú, đặc biệt là khi đang nuôi con sơ sinh hoặc trẻ sinh non.

Người lái xe và vận hành máy móc

  • Khi lái xe hoặc vận hành máy, thỉnh thoảng có thể xảy ra chóng mặt hoặc mệt mỏi.

Bảo quản

  • Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
Xem thêm nội dung
Bình luận của bạn
Đánh giá của bạn:
*
*
*
 Captcha

Tại sao chọn chúng tôi

8 Triệu +

Chăm sóc hơn 8 triệu khách hàng Việt Nam.

2 Triệu +

Đã giao hơn 2 triệu đơn hàng đi toàn quốc

18.000 +

Đa dạng thuốc, thực phẩm bổ sung, dược mỹ phẩm.

100 +

Hơn 100 điểm bán và hệ thống liên kết trên toàn quốc

NHÀ THUỐC MINH CHÂU

  • 354 Nguyễn Văn Công, Phường Hạnh Thông (Phường 3, Gò Vấp), TP.HCM   Đường đi

CSKH: 08 1900 8095 - 08 9939 1368 (VN)
CALL CENTER: 0818 55 66 68 (Call Center For Foreigner)
Email: htnhathuocminhchau@gmail.com
Website: www.nhathuocminhchau.com

Đã xác nhận

© Bản quyền thuộc về nhathuocminhchau.com

Công ty TNHH Thương Mại Y Tế Xanh _ GPKD số 0316326671 do Sở KH và ĐT TP Hồ Chí Minh cấp ngày 16/06/2020 _ GĐ/Sở hữu website Trần Văn Quang. Địa chỉ: 2/8 Nguyễn Văn Công, Phường Hạnh Thông, TP.HCM

Hiệu quả của sản phẩm có thể thay đổi tùy theo cơ địa của mỗi người.
Sản phầm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

*** Website nhathuocminhchau.com không bán lẻ dược phẩm trên Online, mọi thông tin trên website nhằm cung cấp thông tin tham khảo sản phẩm. Website hoạt đồng dưới hình thức cung cấp thông tin tham khảo cho nhân sự trong hệ thống và là nơi Người dân tham thảo thông tin về sản phẩm.